tiểu luận lịch sử thế giới cận đại
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại Khoa Lịch sử nghành Sư Phạm Lịch Sử- Địa Lí Trường Đại học Sư phạm Huế, em nhận đã được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Lịch Sử và những người bạn đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian làm bài nghiên cứu .
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô TS. Lê thị Quí Đức đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình để em có thể hoàn thành tốt bài nghiên cứu .
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng bài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót do năng lực bản thân còn hạn chế, em rất mong bài nghiên cứu nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu, thầy cô và các độc giả để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2023
![]() |
Sinh viên
Phạm quốc trung
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan, bài nghiên cứu là sản phẩm do em thực hiện, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, kết cấu của bài nghiên cứu . Các nội dung kiến thức được trình bày trong bài nghiên cứu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng không bịa đặt thông tin để trích dẫn.
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này.
3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
6. dự kiến đóng góp của đề tài 3
6.1 ý nghĩa khoa học.........................................................................................................3
6.2 ý nghĩa thực tiễn..........................................................................................................3
7.1 Tình hình nghiêng cứu ngoài nước
7.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2 Bối cảnh lịch sử trước khi diễn ra quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời kỳ Meiji.
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH ÂU HÓA QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN THỜI KÌ MEIJI. 10
2.1 Nội dung cải cách Âu hoá trong Quân đội của Nhật bản 10
2.2 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản trong và sau cuộc binh biến Satsuma của Saigo Takamori 14
2.2.1 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản trong cuộc binh biến Satsuma của saigo Takamori 14
2.2.2 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản sau cuộc binh biến Satsuma của Saigo Takamori
2.3 Kết quả của quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời kì Meiji.
3.2 Tiền đề phát triển đối với thuyết Đại Đông Á
I. Tài liệu tham khảo trong nước
II. Tài liệu tham khảo nước ngoài
TỔNG QUAN
1. Đặt vấn đề.
"Quá trình Âu hoá trong quân đội Đế Quốc Nhật Bản thời kỳ Meiji" thể hiện một phần quan trọng của sự đổi mới và chuyển đổi toàn diện mà Nhật Bản đã trải qua trong giai đoạn Meiji. Dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Meiji, đất nước này đã bước chân vào một cuộc cách mạng vô cùng đột ngột và thành công để hiện đại hóa từ một xã hội truyền thống sang một quốc gia công nghiệp và quân sự mạnh mẽ. Trong bối cảnh xâm lược và áp lực từ các thế lực phương Tây, việc Âu hoá quân đội đã trở thành một phần quan trọng của quá trình này. Việc nghiên cứu quá trình Âu hoá trong quân đội Nhật Bản giúp chúng ta hiểu rõ cách mà Nhật Bản đã học hỏi và thích nghi với các yếu tố quân sự, kỹ thuật, và tổ chức phương Tây. Điều này bao gồm việc áp dụng các nguyên tắc quân sự hiện đại, đổi mới cơ cấu quân sự và tạo ra một quân đội chuyên nghiệp. Là một phần quan trọng của lịch sử Nhật Bản, quá trình Âu hoá trong quân đội Meiji không chỉ thể hiện sự thay đổi về mặt quân sự mà còn phản ánh sự thấm nhuần văn hóa và quyền lực đối ngoại. Điều này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và tầm ảnh hưởng của Nhật Bản trong thế giới quốc tế. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp hiểu sâu hơn về lịch sử Nhật Bản mà còn đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về quá trình hiện đại hóa và tương tác văn hóa quốc tế.
"Quá trình Âu hoá trong quân đội Đế Quốc Nhật Bản thời kỳ Meiji là một minh chứng nổi bật về sự thích ứng chủ động của người Nhật đối với nền văn minh công nghiệp Tây phương" (Beasley, 2000). Thời kỳ Meiji (1868-1912) đánh dấu một bước ngoặt của Nhật Bản, từ một xã hội phong kiến truyền thống chuyển sang một nhà nước công nghiệp và quân sự hiện đại. Trong bối cảnh bị các cường quốc phương Tây đe dọa, Nhật Bản đã nhanh chóng tiến hành một loạt cải cách sâu rộng để tăng cường sức mạnh, trong đó có việc Âu hoá quân đội.
Theo Perrin (1979), quá trình Âu hoá bao gồm việc đưa mọi khía cạnh của nền quân sự phương Tây - kỹ thuật, chiến thuật, tổ chức và tinh thần vào trong cấu trúc quân đội Nhật Bản. Đây là một quá trình đồng hoá nhanh chóng, có hệ thống và triệt để, thể hiện rõ nét trong tham vọng của Nhật Bản muốn trở thành một cường quốc quân sự."
2. Đối tượng nghiên cứu.
Quá trình Âu hoá quân đội Nhật Bản trong thời kỳ Meiji
3. Mục tiêu nghiên cứu.
3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Mục tiêu chung của bài tiểu luận này là đưa ra những đánh giá, thực trạng trong quá trình tổ chức Âu hoá Quân đội Nhật Bản dưới thời Meiji. Để qua đó có thể cho chúng ta thấy những thành tựu về quân sự mà Nhật Bản đạt được trong thời gian này.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Từ mục tiêu chung, tiểu luận đưa ra ba mục tiêu cụ thể như sau:
- Làm rõ và phân tích “Âu hoá” trong quân đội Nhật Bản thời Meiji.
- Phân tích, trình bày và đánh giá quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản dưới thời kì Meiji. Để từ đó chỉ rõ được những ưu điểm, hạn chế của quân đội Nhật Bản dưới thời kì Meiji
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên bao gồm 4 phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập và nghiên cứu, phân tích thông tin từ những sách, tạp chí khoa học, các diễn đàn khoa học, giáo trình, trang trình duyệt chính thống và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này. Phương pháp này giúp chúng ta tìm hiểu các khái niệm, vai trò, ý nghĩa cũng như nội dung về Quá trình Âu hoá quân đội Nhật Bản dưới thời kì Meiji.
- Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu lịch sử: Sử dụng phương pháp liên ngành sẽ hỗ trợ cho việc nghiên cứu trở nên có tính toàn diện và chính xác. Việc tìm hiểu địa lí nơi xảy ra sự kiện làm góp phần củng cố quan điểm của các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ, đồng thời để lại các bài học lịch sử vô cùng trân quý cho thế hệ sau.
- Phương pháp logic và phương pháp lịch sử: Phương pháp lịch sử hỗ trợ trình bày rõ ràng về cả không gian và thời gian của các sự kiện chính. Phương pháp logic hỗ trợ diễn giải các sự kiện một cách có hệ thống, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên và làm nỗi bật các yếu tố nổi bật. Hai phương pháp có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nghiên cứu trở nên sâu sắc và toàn diện hơn.
5. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian nghiên cứu: Quân đội Nhật Bản
- Thời gian nghiên cứu : Thời kì Thiên Hoàng Minh Trị Meiji (1868-1912)
- Nội dung nghiên cứu: Xoay quanh quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản dưới thời Meiji và những kết quả về Quân đội Nhật Bản đạt được trong thời gian này.
6. dự kiến Đóng góp của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình Âu hóa quân đội Nhật Bản thời kỳ Meiji, phân tích sự thay đổi trong chính sách quân sự so với thời kỳ trước.
- Đánh giá cả mặt tích cực và hạn chế của việc Âu hóa quân đội Nhật Bản thời kỳ Meiji, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Là tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử quân sự Nhật Bản thời kỳ Meiji.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần làm sáng tỏ một giai đoạn quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quân sự của Nhật Bản.
- Rút ra bài học kinh nghiệm về việc vận dụng sáng tạo yếu tố ngoại lai để phát triển đất nước để xây dựng đất nước
- Cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách quốc phòng, an ninh trong việc nghiên cứu về lịch sử quân sự nhật bản bản .
7. Tình hình nghiên cứu
7.1 Tình hình nghiêng cứu ngoài nước
Ấn tượng phổ biến về quân đội đế quốc Nhật Bản vẫn đề cao hình ảnh những banzai buộc tội tự sát và những thủ lĩnh cuồng tín tận tụy một cách mù quáng với hoàng đế của họ. Edward Drea nhìn xa hơn những khuôn mẫu đó để mở ra câu chuyện phức tạp hơn về cách đội quân đó lên nắm quyền và mở rộng ảnh hưởng trong và ngoài nước để trở thành một trong những lực lượng chiến đấu thống trị thế giới. Cuốn lịch sử toàn diện đầu tiên bằng tiếng Anh của quân đội Nhật Bản này truy tìm nguồn gốc, sự phát triển và tác động của nó như một động cơ cho các tham vọng khu vực và toàn cầu của đất nước, đồng thời là chất xúc tác cho quá trình quân sự hóa quê hương Nhật Bản từ các cuộc xâm lược giữa thế kỷ 19 cho đến cuối thế kỷ 20. của Thế chiến thứ hai. Thể hiện sự thông thạo các nguồn tiếng Nhật của mình, Drea giải thích phong cách chiến tranh của Nhật Bản, được truyền thuyết về samurai đánh bóng, đã định hình quân đội, thu hẹp các lựa chọn, ảnh hưởng đến các quyết định của quân đội và biến quân đội thành thể chế chinh phục hầu hết Châu Á. Ông cũng kể về nền tảng trí tuệ của quân đội đã thay đổi như thế nào khi nó tự tái tạo để đáp ứng các yêu cầu đang thay đổi của xã hội Nhật Bản - và đến lượt quân đội lại định hình đường lối chính trị, xã hội, văn hóa và chiến lược của quốc gia một cách dứt khoát như thế nào. Drea kể lại việc Nhật Bản đã dành một lượng ngân sách khổng lồ cho việc hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa và huấn luyện quân đội của mình như thế nào – lực lượng này ngày càng lớn mạnh hơn, mạnh mẽ hơn và có ảnh hưởng chính trị lớn hơn sau mỗi thập kỷ trôi qua. Trên đường đi, nó đã tạo ra một hệ thống giáo dục quân sự hiệu quả, một lực lượng dự bị và nghĩa vụ tại ngũ được tổ chức tốt, một quân đoàn sĩ quan chuyên nghiệp luôn suy nghĩ về mối đe dọa khu vực và những người lính được đào tạo bài bản được trang bị vũ khí thích hợp. Bao gồm học thuyết, chiến lược, vũ khí và các mối quan hệ dân sự - quân sự, nghiên cứu chuyên môn của Drea cũng nắm bắt được những nhân vật thống trị đã định hình nên quân đội đế quốc, từ Yamagata Aritomo, một chiến lược gia địa chính trị sắc bén, đến Anami Korechika, người đã khuyến khích quân đội chiến đấu đến chết trong thời kỳ chiến tranh. Những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai. Tóm lại, Drea cũng gợi ý rằng một đội quân đặt mình lên trên lợi ích của quốc gia sẽ thất bại. Đó là nội dung chính của tác giả Drea Edward J. (2009) trong bài nghiên cứu Quân đội Đế quốc Nhật Bản: Sự trỗi dậy và sụp đổ, 1853–1945. Lawrence, Kansas: Nhà xuất bản Đại học Kansas.
7.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những cải cách về quân sự ở đế quốc Nhật Bản trong thời kỳ Meiji đã được nhiều nhà sử học nghiêng cứu và được đánh giá rất nhiều trong các tác phẩm sử học:
Cuốn Nhật Bản Duy Tân 30 Năm của tác giả Đào Trinh Nhất có thể được xem như một cuốn cẩm nang sử học dành cho những ai muốn tìm hiểu về Chính trị – Xã hội, đặc biệt đất nước, con người, quân đội và văn hóa Nhật Bản, nhất là giai đoạn mà Nhật Bản thực hiện công cuộc duy tân. Nhật Bản duy tân 30 năm sẽ giúp độc giả trả lời những câu hỏi như: Đâu là công cuộc duy tân ở Nhật Bản? Sự lột xác thần kỳ của Nhật Bản phải chăng là do may mắn? Nhật Bản đã làm những gì để có những thay đổi ngoạn mục, trở thành biểu tượng cho cả thế giới? Liệu rằng chúng ta có học hỏi được gì từ bài học duy tân của Nhật Bản hay không? Cuốn sách duy tân 30 năm sẽ cho độc giả một cái nhìn toàn vẹn về một cường quốc nhỏ bé về địa lý nhưng đã đạt được những thành tựu thần kỳ về văn hóa – chính trị – xã hội - quân đội.
Ngoài ra cải cách Quân đội ở Nhật Bản thời kỳ Meiji còn được thể hiện trong một số quyển sách khác như: Lịch sử Nhật Bản do PGS Nguyễn Quốc Hùng chủ biên là cuốn lịch sử Nhật Bản đầu tiên do Bộ môn Nhật Bản học của Khoa Đông phương học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, tổ chức biên soạn. Lịch sử thế giới cận đại do tác giả Vũ Dương Ninh chủ biên Nhà Xuất Bản Giáo dục năm 2007 . Nhật Bản Cận đại do GS Vĩnh Sính biên soạn, tuy nhiên quyển sách này chưa được phổ biến rộng rãi.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương, bao gồm:
Chương 1: Định nghĩa Âu hoá và bối cảnh trước khi lịch sử diễn ra Âu hoá quân đội Nhật Bản thời kì Meiji.
Chương 2: Quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời kì Meiji.
Chương 3: Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời Meiji - Tiền đề vươn lên của đại Nhật Bản Đế Quốc (Meiji - chiến tranh thế giới thứ 2).
CHƯƠNG I: ĐỊNH NGHĨA ÂU HÓA VÀ BỐI CẢNH TRƯỚC KHI LỊCH SỬ DIỄN RA ÂU HÓA QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN THỜI KÌ MEIJI.
1.1 Định nghĩa Âu hoá.
Âu hoá hay còn gọi là Tây hoá là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình một nền văn hoá bị tác động và thay đổi dưới ảnh hưởng của văn hoá phương Tây. Cụ thể, Âu hoá làm cho các đặc trưng, giá trị truyền thống, phong tục tập quán của một dân tộc hay vùng đất bị mất đi hoặc thay đổi theo hướng tiếp nhận những yếu tố văn hoá Tây Âu.
Nguyên nhân dẫn đến Âu hoá gồm: sự toàn cầu hoá, ảnh hưởng của các nước phương Tây, xu hướng tiêu chuẩn hoá, thay đổi hệ thống giáo dục theo mô hình phương Tây, sự thâm nhập văn hoá thông qua truyền thông, du lịch và giao lưu văn hoá.
Âu hoá có cả tác động tích cực và tiêu cực. Tích cực là mở rộng tầm nhìn, đổi mới, phát triển kinh tế và nâng cao trình độ nhân lực. Tiêu cực là làm mất đi bản sắc văn hoá truyền thống và sự đa dạng văn hoá giữa các nước.
Tóm lại, Âu hoá là quá trình giao thoa văn hoá không tránh khỏi, cần xem xét một cách cân nhắc để vừa bảo tồn những giá trị bản địa, vừa tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố tích cực từ nền văn minh hiện đại.
1.2 Bối cảnh lịch sử trước khi diễn ra quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời kỳ Meiji.
1.2.1 Tình hình Nhật Bản.
Sau thất bại trong các cuộc Chiến tranh Nha phiến với Anh vào năm 1839 và 1856, các nước châu Á nhận ra rằng công nghiệp hóa đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho các nước Châu Âu. Điều này thể hiện rõ qua việc Anh dễ dàng đánh bại đội quân đông đảo của Trung Quốc nhờ ưu thế về công nghệ và trang bị. Trước tình thế đó, Nhật Bản đã nhanh chóng tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân vào năm 1868, kết hợp cả mô hình phương Tây và truyền thống bản địa, giúp Nhật Bản trở thành một cường quốc công nghiệp có thể cạnh tranh với phương Tây.
Nhằm mục đích tăng cường sức mạnh quân sự và bảo vệ đất nước, Nhật Bản đã tiến hành công cuộc hiện đại hóa một cách quyết liệt dưới thời Thiên hoàng Minh Trị. Thông qua việc chấp nhận ưu thế về khoa học kỹ thuật của phương Tây, Nhật Bản đã trở nên giàu có và hùng mạnh, đủ sức đối phó với các thách thức từ bên ngoài trong tương lai.
Vào khoảng cuối năm 1866, một nhóm thân hoàng gia đã tổ chức một cuộc đảo chính ở Kyoto và tuyên bố khôi phục hoàng gia. Mạc phủ Tokugawa chính thức kết thúc vào ngày 9 tháng 11 năm 1867, khi Tướng quân Tokugawa thứ mười lăm, Tokugawa Yoshinobu, "từ bỏ đặc quyền của mình cho hoàng đế" và từ chức mười ngày sau đó. Đó thực sự là một sự “phục hồi”; (Taisei Hōka) nắm quyền lực đế quốc, mặc dù Yoshinobu vẫn giữ được quyền lực đáng kể. Vào tháng 1 năm 1868, cuộc nội chiến bắt đầu với Chiến tranh Boshin (Năm Chiến tranh thìn) tại Trận Toba Fushimi, quân đội do lực lượng Choshu và Satsuma chỉ huy đã đánh bại quân đội cựu Tổng và buộc hoàng đế phải thoái vị, giành toàn bộ quyền lực từ tay Yoshinobu. Một số tàn dư của lực lượng Mạc phủ chạy trốn đến phía bắc Honshu và sau đó là Hokkaido, nơi họ cố gắng thành lập Cộng hòa Ezo ly khai, nhưng điều này sớm kết thúc với cuộc vây hãm Hakodate ở Hokkaido vào tháng 5 năm 1869, tất cả các thách thức đối với hoàng đế và sự kết thúc của triều đại của ông. một quy tắc. Mặc dù các nhà lãnh đạo của cuộc Minh Trị Duy tân nổi tiếng đã nỗ lực khôi phục quyền lực đế quốc, nhưng quyền lực chính trị chỉ đơn giản chuyển dịch khỏi Mạc phủ Tokugawa trong chính chế độ đầu sỏ, chủ yếu từ Tỉnh Satsuma (Okubo Toshimichi và Saigo Takamori) và Tỉnh Choshu (Ito Hirobumi, Yamagata). Aritomo và Kido Koin). Khái niệm của họ về chính quyền đế quốc là một mô hình cổ xưa, trong đó hoàng đế giữ vai trò thầy tế lễ thượng phẩm trong khi các quan đại thần cai trị đất nước dưới danh nghĩa của ông.
Sự khôi phục Minh Trị, sau đó được gọi tên là Thiên hoàng Minh Trị (1868-1912) đã lên ngôi vào năm 1868 ở tuổi 15. Ông đã tiến hành một cuộc cách mạng chính trị dựa vào những người trẻ tuổi, tầng lớp samurai đã được giác ngộ. Những người này cùng những thành viên ủng hộ đã kêu gọi việc “quay lại thời cổ xưa” (fukko). Ngay sau đó, họ phấn khích lấy lại tinh thần và các phương thức cổ xưa, đặc biệt là tổ chức cổ xưa của chính quyền hoàng thất Taiho Code. Nhưng những người lãnh đạo của chính quyền Minh Trị mới, bao gồm những cận thần tại Kyoto và những samurai là những người của tương lai chứ không phải của quá khứ. Thiên hoàng là người đàn ông thực dụng, ông đề cao sự ưu việt về vật chất của phương Tây và muốn mô phỏng nó bằng chủ trương hiện đại hóa. Nhật Bản tin rằng công cuộc hiện đại hóa là tất yếu nếu Nhật Bản muốn bảo vệ mình khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài trong tương lai. Họ dùng khẩu hiệu của những người Trung Quốc: “ làm giàu đất nước và nâng cao sức mạnh của mình” như một lời tuyên bố chung thay cho khẩu hiệu chính trị. Nhờ hiện đại hóa, Nhật Bản đã trở nên giàu mạnh trợ giúp cho mục đích tăng sức mạnh quân sự lúc đầu.
Như vậy, có thể thấy rằng quá trình hiện đại hóa dưới thời Minh Trị Duy Tân là bước ngoặt quan trọng đối với sự trỗi dậy của Nhật Bản thành một cường quốc ở châu Á vào cuối thế kỷ 19.
1.2.2 Tình hình Thế giới.
Các cuộc cách mạng công nghiệp dần dần xuất hiện vào cuối thế kỷ 18. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trong lịch sử hiện đại là sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp và thủ công sang nền kinh tế do công nghiệp và sản xuất thống trị. Những thay đổi công nghệ này đã dẫn đến những lối sống mới và thay đổi cấu trúc xã hội. Quá trình này bắt nguồn từ nước Anh vào thế kỷ 18 và sau đó lan rộng ra các nơi khác trên thế giới. Bắt đầu vào khoảng năm 1784 đỉnh cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng công nghiệp này bắt đầu với việc phát minh ra động cơ hơi nước của James Watt vào năm 1784. Phát minh vĩ đại này đã châm ngòi cho sự bùng nổ công nghiệp trong thế kỷ 19, lan rộng từ nước Anh đến toàn bộ châu Âu và xa hơn nữa. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã thay thế hệ thống kỹ thuật truyền thống cũ kỹ của thời đại nông nghiệp (kéo dài 17 thế kỷ) chủ yếu dựa vào gỗ, sức cơ (thủ công), sức nước, sức gió và sức kéo của động vật... Bằng một hệ thống mới, một hệ thống kỹ thuật chạy bằng động cơ hơi nước và sắt và than làm nguồn nguyên liệu thô mới. Điều này dẫn đến lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo nên sự phát triển vượt bậc về công nghiệp và kinh tế. Đó là thời kỳ chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất cơ giới hóa dựa trên khoa học thực nghiệm.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 diễn ra từ khoảng năm 1870 đến khi Thế Chiến I nổ ra. Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần này là việc sử dụng năng lượng điện và sự ra đời của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra khi có sự phát triển của ngành điện, vận tải, hóa học, sản xuất thép, và (đặc biệt) là sản xuất và tiêu dùng hàng loạt. Cuộc CMCN lần thứ 2 đã tạo nên những tiền đề mới và cơ sở vững chắc để phát triển nền công nghiệp ở mức cao hơn nữa.Cuộc cách mạng này được chuẩn bị bằng quá trình phát triển 100 năm của các lực lượng sản xuất trên cơ sở của nền sản xuất đại cơ khí và bằng sự phát triển của khoa học trên cơ sở kỹ thuật. Yếu tố quyết định của cuộc cách mạng này là chuyển sang sản xuất trên cơ sở điện - cơ khí và sang giai đoạn tự động hóa cục bộ trong sản xuất, tạo ra các ngành mới trên cơ sở khoa học thuần túy, biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt. Cuộc cách này đã mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện và dây chuyền lắp ráp. Công nghiệp hóa thậm chí còn lan rộng hơn tới Nhật Bản sau thời Minh Trị Duy Tân, và thâm nhập sâu vào nước Nga, nước đã phát triển bùng nổ vào đầu Thế Chiến I. Về tư tưởng kinh tế - xã hội, cuộc cách mạng này tạo ra những tiền đề thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở quy mô thế giới. Từ năm 1870 đến năm 1890, các nước công nghiệp trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế và năng suất. Nhờ đó, điều kiện sống được cải thiện đáng kể và giá hàng hóa giảm. Ngoài ra, mất mùa trên đồng ruộng không còn đồng nghĩa với nạn đói và suy dinh dưỡng vì khu vực nông thôn được kết nối với các thị trường lớn thông qua cơ sở hạ tầng giao thông. Trên cánh đồng cũng có ít người hơn. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp giảm mạnh. Nhưng không phải mọi thứ đều tốt đẹp và bảnh bao. Điện cần cơ giới hóa. Như chúng tôi đã đề cập trước đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ hai là thời kỳ phát triển nhanh chóng và liên tục. Vì vậy, tàu thuyền và các tài sản khác sẽ trở nên lỗi thời trong thời gian ngắn. Người dân mất tiền và tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt.
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH ÂU HÓA QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN THỜI KÌ MEIJI.
2.1 Nội dung cải cách Âu hoá trong Quân đội của Nhật bản
Nhằm mục đích xây dựng một chính quyền Nhà nước mạnh mẽ , đủ sức đương đầu với các thế lực bên ngoài , chính quyền Minh Trị nhận thấy việc thành lập một Quân đội thống nhất cho quốc gia là rất cần thiết thay vì chỉ dựa vào lực lượng quân sự Han . Yêu cầu xây dựng quân đội thống nhất nhận được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân nhưng cũng gặp phải sự tranh cãi xung quanh vấn đề mô hình Quân sự nào sẽ được xây dựng. Những nhân vật tiêu biểu có công lao to lớn trong tiến trình caỉ cách quân đội thời kì Minh Trị là Saigo , Omura, Katsura Taro, Yamagata Aritomo, Saigo Tsugumichi,…
Năm 1854, sau khi Đô đốc Matthew C. Perry được lệnh ký Hiệp ước Kanagawa, các nhà lãnh đạo Nhật Bản quyết định nâng cao năng lực quân sự của đất nước. Nếu không, chúng ta có nguy cơ rơi vào tay các cường quốc phương Tây. Mạc phủ Tokugawa không coi trọng ý tưởng này và phải đến thời Minh Trị năm 1868, chính phủ Nhật Bản mới bắt đầu cải tổ quân đội. Trong thời kỳ đế quốc Âu Mỹ, mục tiêu chính của Nhật Bản là giành lấy sức mạnh quân sự. Một cơ chế chỉ huy phổ biến được đưa ra và một quân đội mới theo mô hình của quân đội Phổ và hải quân theo mô hình của Anh đã được thành lập. Khi Hoàng đế Meiji nắm quyền kiểm soát toàn bộ chính phủ, ông đã ra lệnh thành lập Lực lượng Vệ binh Hoàng gia để bảo vệ bản thân, hoàng gia Nhật Bản và tài sản của họ. Năm 1867, Đội cận vệ Hoàng gia được thành lập từ những người trung thành với Đế quốc Nhật Bản mới. Các đơn vị này sẽ trở thành nòng cốt của quân đội Nhật Bản mới. Đến những năm 1870, Lực lượng Vệ binh Hoàng gia có 12.000 sĩ quan và quân nhân, được tổ chức và huấn luyện theo đường lối của Pháp.
Năm 1870, sau khi được phong làm Sangi một chức vụ trong chính quyền mới , Saigo đã bắt tay ngay vào việc xây dựng lực lượng quân đội đầu tiên cho chính quyền Minh Trị. Với những kinh nghiệm có được thông qua các cuộc cải cách quân sự ở Satsuma trước đây, ông đã đưa kế hoạch lập “ Ngự thân binh” để tăng cường lực lượng cho chính phủ. Sự ra đời của đội quân “ Ngự thân binh” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền quân sự Nhật Bản vào đầu thời kỳ Minh Trị. Năm 1872, đội quân này đổi tên là “cận vệ binh” và Saigo được cử làm tổng tư lệnh đầu tiên. Năm 1873, Luật nghĩa vụ quân sự được thông qua yêu cầu mọi nam công dân Nhật Bản khỏe mạnh, bất kể giai cấp, phải phục vụ thời hạn bắt buộc là ba năm với quân dự bị thứ nhất và hai năm bổ sung với quân dự bị thứ hai, theo đạo luật này thì con trai đủ 20 tuổi, bất kể là Shizoku hay heimin đều có nghĩa vụ nhập ngũ trong 3 năm và 6 năm dự bị. Đạo luật hoành tráng này, đánh dấu sự khởi đầu cho sự kết thúc của tầng lớp samurai, ban đầu vấp phải sự phản kháng của cả nông dân và chiến binh. Luật này nhằm mục đích kiểm soát xã hội, đặt tầng lớp samurai ngỗ ngược trở lại vai trò chiến binh của họ và cho phép quân đội giáo dục những người nhập ngũ. Chính phủ Pháp đã đóng góp đáng kể vào việc đào tạo các sĩ quan Nhật Bản. Nhiều người đã được tuyển dụng tại học viện quân sự ở Kyoto. Tầng lớp nông dân giải thích thuật ngữ nghĩa vụ quân sự, ketsu-eki (thuế máu), theo nghĩa đen và cố gắng trốn tránh nghĩa vụ bằng mọi cách cần thiết, bao gồm gây thương tích, tự cắt xẻo cơ thể và các cuộc nổi dậy ở địa phương. Các samurai nhìn chung không hài lòng với quân đội mới kiểu phương Tây và lúc đầu từ chối đứng về đội hình với tầng lớp nông dân thấp kém. Luật bắt buộc cũng là một phương pháp kiểm soát xã hội, đặt tầng lớp samurai ngang ngược trở lại vai trò chiến binh của họ.
Cuộc Minh Trị Duy Tân ban đầu gây ra sự bất đồng quan điểm trong tầng lớp samurai và hệ thống cưỡng bách tòng quân là một cách để ổn định sự bất đồng quan điểm đó. Một số samurai, bất bình hơn những người khác, đã thành lập các nhóm kháng chiến để trốn tránh nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Nhiều người đã tự cắt xẻo bản thân hoặc công khai nổi loạn. Luật cũng cho phép quân đội giáo dục quân nhân, tạo cơ hội cho cả giáo dục cơ bản (ví dụ: học cách đọc) và giáo dục nâng cao cũng như thăng tiến nghề nghiệp. Chính phủ nhận ra rằng một người lính có học thức có thể trở thành một thành viên có ích hơn cho xã hội, và giáo dục được coi là con đường dẫn đến sự tiến bộ của nhà nước. Nghĩa vụ quân sự cũng yêu cầu kiểm tra y tế. Những người không thể vượt qua kỳ thi đã được gửi về gia đình của họ. Mặc dù không có hình phạt vật chất cho việc thi trượt, nhưng việc làm này đã tạo ra sự chia rẽ giữa những người có khả năng phục vụ đất nước và những người không có khả năng phục vụ đất nước. Sau này thường bị xã hội gạt ra ngoài lề xã hội. Cùng với luật mới, chính phủ Nhật Bản bắt đầu xây dựng mô hình lực lượng mặt đất của họ giống như quân đội Pháp, và quân đội mới của Nhật Bản sử dụng cơ cấu cấp bậc tương tự như quân đội Pháp. Chính phủ Pháp đã đóng góp đáng kể vào việc đào tạo sĩ quan Nhật Bản. .Bất chấp Luật tòng quân năm 1873 cùng những cải cách và tiến bộ khác, quân đội mới của Nhật Bản vẫn chưa được thử thách. Năm 1874, Nhật Bản phát động một cuộc thám hiểm quân sự thành công tới Đài Loan để khẳng định yêu sách của mình đối với quần đảo Ryukyu. Quân đội lúc này có 4 loại, Quân chính quy : chia ra làm tại ngũ và dự bị 2 kì; lính tại ngũ thì Lục Quân 3 năm, Hải Quân 4 năm ; lính dự bị thì Lục Quân 4 năm 4 tháng, Hải Quân là 3 năm. Quân dự bị: Những người đăng ký vào quân dự bị thì mỗi năm đi nghĩa vụ quân sự một tháng, kì hạn dự bị là 5 năm, mãn hạn thì tên được gạch khỏi sổ quân dự bị; Quân dự bị khác với quân chính quy là họ vẫn làm công việc bình thường, khi có chiến tranh, chính phủ động viên thì tham gia vào quân đội. Quân bổ sung: những quân nhân, vì lí do sức khoẻ, không phù hợp với chiến đấu ở chiến trường thì đăng ký vào ngạch Quân bổ sung. Dân binh: là những người đã mãn hạn nghĩa vụ nhưng xin ở lại phục vụ trong Quân đội vĩnh viễn.
Năm 1868, chính phủ Nhật Bản thành lập Tokyo Arsenal, trong đó vũ khí nhỏ và đạn dược liên quan được phát triển và sản xuất. Năm 1870, một kho vũ khí khác được mở ở saka. Tại địa điểm đó, súng máy và đạn dược đã được sản xuất và bốn cơ sở sản xuất thuốc súng đã được mở. Cũng trong năm 1868, Masujiro Omura thành lập học viện quân sự đầu tiên của Nhật Bản tại Kyoto. Dưới chính phủ Meiji mới, Omura, ngày nay được coi là cha đẻ của quân đội Nhật Bản hiện đại, được bổ nhiệm vào chức vụ tương đương Thứ trưởng Bộ Chiến tranh. Ông được giao nhiệm vụ thành lập quân đội quốc gia dọc theo các tuyến phía Tây và tìm cách giới thiệu chế độ tòng quân và huấn luyện quân sự cho dân thường, thay vì dựa vào lực lượng phong kiến cha truyền con nối. Ông cũng ủng hộ mạnh mẽ việc bãi bỏ hệ thống han (các lãnh địa phong kiến) và cùng với đó là vô số quân đội tư nhân do các lãnh chúa phong kiến duy trì, hệ thống mà ông coi là sự tiêu hao tài nguyên và là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh .Omura vấp phải sự phản đối từ nhiều đồng nghiệp của mình, bao gồm cả hầu hết các samurai bảo thủ, những người coi ý tưởng của ông về hiện đại hóa và cải cách quân đội Nhật Bản là quá cấp tiến, chấm dứt không chỉ sinh kế của hàng nghìn samurai mà còn cả vị trí đặc quyền của họ trong xã hội. Sự tiếp đón của Hoàng đế Minh Trị với Phái bộ quân sự Pháp lần thứ hai tới Nhật Bản 1872, từ bức vẽ của Deschamps, Le Monde Illustre, ngày 1 tháng 2 năm 1873: Nhiệm vụ của phái đoàn là giúp tổ chức lại Quân đội Đế quốc Nhật Bản và thiết lập dự thảo luật đầu tiên, được ban hành vào năm 1873. Một bản chiếu chỉ của hoàng gia năm 1882 kêu gọi các lực lượng vũ trang mới phải trung thành tuyệt đối với hoàng đế và khẳng định rằng mệnh lệnh của các sĩ quan cấp trên tương đương với mệnh lệnh của chính hoàng đế. Kể từ đó, quân đội tồn tại trong mối quan hệ mật thiết và đặc quyền với thể chế đế quốc. Các nhà lãnh đạo quân sự cấp cao nhất được trao quyền tiếp cận trực tiếp với hoàng đế và có quyền truyền trực tiếp các tuyên bố của ông tới quân đội. Mối quan hệ đồng cảm giữa lính nghĩa vụ và sĩ quan, đặc biệt là các sĩ quan cấp dưới hầu hết xuất thân từ tầng lớp nông dân, có xu hướng đưa quân đội đến gần nhân dân hơn. Theo thời gian, hầu hết mọi người đều tìm kiếm sự hướng dẫn trong các vấn đề quốc gia từ các chỉ huy quân sự hơn là từ các nhà lãnh đạo chính trị.. Năm 1871, một con tàu Ryukyuan bị đắm ở Đài Loan và thủy thủ đoàn bị thảm sát. Năm 1874, lấy sự kiện này làm cái cớ, Nhật Bản tiến hành một cuộc thám hiểm quân sự tới Đài Loan để khẳng định yêu sách của mình đối với quần đảo Ryukyu. Cuộc thám hiểm là trường hợp đầu tiên quân đội Nhật Bản phớt lờ mệnh lệnh của chính phủ dân sự khi đoàn thám hiểm ra khơi sau khi bị hoãn lại.
Ở trong nước, cuộc thử thách lớn nhất về sức mạnh quân sự mới diễn ra vào năm 1877 khi Saigō Takamori lãnh đạo Cuộc nổi dậy Satsuma, cuộc nổi dậy cuối cùng của samurai. Cái tên này xuất phát từ vùng Satsuma, nơi trở thành quê hương của các samurai thất nghiệp sau khi cải cách quân sự làm suy giảm hàng ngũ samurai. Lâu đài Kumamoto là nơi diễn ra hành động lớn đầu tiên khi quân đội tấn công quân đội của Saigō khi họ cố gắng tiến vào cung điện. Hai ngày sau, trong khi cố gắng phong tỏa con đèo, quân nổi dậy của Saigo chạm trán với binh lính Quốc gia trên đường đến tiếp viện cho Lâu đài Kumamoto và sau một cuộc giao tranh ngắn, cả hai bên đều rút lui để tái lập lực lượng. Vài tuần sau, Quân đội Quốc gia giao chiến cùng quân nổi dậy Saigo trong một cuộc tấn công trực diện mà ngày nay gọi là Trận Tavaruzka.
2.2 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản trong và sau cuộc binh biến Satsuma của Saigo Takamori
2.2.1 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản trong cuộc binh biến Satsuma của saigo Takamori
Trong hai mươi năm tiếp theo, vào những năm 1870 và 1880, ưu tiên hàng đầu vẫn là cải cách trong nước nhằm thay đổi các thể chế kinh tế và xã hội của Nhật Bản theo mô hình do các quốc gia hùng mạnh phương Tây cung cấp. Đòn cuối cùng giáng vào các samurai bảo thủ xảy ra trong cuộc nổi dậy Satsuma năm 1877, khi quân đội mới thành lập của chính phủ, được huấn luyện về kỹ thuật bộ binh Châu Âu và trang bị súng hiện đại của phương Tây, đã đánh bại sự kháng cự cuối cùng của các chiến binh samurai truyền thống. Ngoại trừ một vài đợt bùng phát samurai này, quá trình chuyển đổi trong nước của Nhật Bản diễn ra với tốc độ, năng lượng và sự hợp tác đáng kể của người dân. Hiện tượng này là một trong những đặc điểm chính của lịch sử hiện đại của Nhật Bản.
Sự sụp đổ của Liên minh Satsuma-Choshu đã gây chấn động chính trường Nhật Bản và nhiều quan chức cấp cao bắt đầu đặt câu hỏi về khả năng lãnh đạo đất nước của chính phủ. Giờ đây, Quân đội Đế quốc có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và tính hợp pháp của cuộc Duy tân Minh Trị. Vào ngày 14 tháng 2 năm 1877, lực lượng Satsuma bao vây Lâu đài Kumamoto. Các Samurai đã giành được những chiến thắng nhỏ ở vùng ngoại ô và các cánh đồng xung quanh. Tuy nhiên, Quân đội Đế quốc dưới sự chỉ huy của Tani Tateki vẫn giữ vững lập trường. Những kẻ bao vây thậm chí còn tổ chức thành công một cuộc xuất kích vào ngày 8 tháng 4, phá vỡ phòng tuyến của lực lượng Saigo và cho phép quân tiếp viện và vật tư cần thiết đến được lâu đài. Vào ngày 12 tháng 4, lực lượng cứu trợ do Tướng Kuroda Kiyotaka và Yamakawa Hiroshi chỉ huy đã áp đảo được lực lượng Satsuma, buộc họ phải rút lui. Đứng lên chống lại sự đàn áp lối sống samurai truyền thống và cấu trúc xã hội, các samurai Satsuma đã chiến đấu một loạt trận chiến trên đảo Kyushu của Nhật Bản vào năm 1877.Được lãnh đạo bởi Saigo Takamori, một cựu nguyên soái rất được kính trọng trong Quân đội Đế quốc . Với sự xuất hiện của quân tiếp viện Imperial, Saigo buộc phải rút lui và chịu một loạt thất bại nhỏ. Mặc dù ông có thể giữ nguyên lực lượng của mình nhưng các cuộc giao tranh đã khiến quân đội của ông giảm xuống còn 3.000 người.
Vào cuối tháng 8, lực lượng Hoàng gia do Tướng Yamagata Aritomo chỉ huy đã bao vây quân nổi dậy trên núi Enodake. Trong khi nhiều người của Saigo muốn giữ vững vị trí cuối cùng trên sườn núi thì chỉ huy của họ lại muốn tiếp tục rút lui về căn cứ của họ ở Kagoshima. Vượt qua màn sương mù, họ trốn tránh được quân Đế quốc và trốn thoát. Yamagata lo ngại Saigo sẽ lại bỏ trốn một lần nữa. Bao vây Hiroyama, ông ra lệnh cho người của mình xây dựng một hệ thống hào và công trình bằng đất phức tạp để ngăn chặn quân nổi dậy trốn thoát. Lệnh cũng được ban hành rằng khi cuộc tấn công xảy ra, các đơn vị không được di chuyển để hỗ trợ lẫn nhau nếu một bên rút lui. Thay vào đó, các đơn vị lân cận phải bắn vào khu vực này một cách bừa bãi để ngăn quân nổi dậy đột phá, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc tấn công các lực lượng khác của Đế quốc. Khi lực lượng Tateki đang giữ vững vị trí ở Kumamoto, binh lính Hoàng gia dưới sự chỉ huy của Tướng quân Hoàng tử Arisugawa Taruhito và Yamagata Aritomo đã gây ra thất bại nặng nề cho quân Satsuma trong Trận Tabaruzaka mặc dù bị tổn thất nặng nề. Hai thất bại thảm khốc đó đã phá vỡ quyết tâm của các Samurai, những người rút lui từ từ về phía ngọn đồi Hiroyama, chịu thương vong nặng nề ở mỗi lần dừng chân.
Vào ngày 23 tháng 9, hai sĩ quan của Saigo tiếp cận phòng tuyến của Đế quốc dưới lá cờ đình chiến với mục tiêu đàm phán tìm cách cứu thủ lĩnh của họ. Bị từ chối, họ được gửi trở lại cùng với một lá thư từ Yamagata cầu xin quân nổi dậy đầu hàng. Vì danh dự bị cấm đầu hàng, Saigo đã qua đêm dự tiệc rượu sake với các sĩ quan của mình. Quá nửa đêm, pháo binh của Yamagata nổ súng và được tàu chiến hỗ trợ trong bến cảng. Giảm vị trí của phiến quân, quân triều đình tấn công vào khoảng 3 giờ sáng. Tấn công các tuyến của Hoàng gia, các samurai đóng cửa và giao chiến với lính nghĩa vụ của chính phủ bằng thanh kiếm của họ. Đến 6 giờ sáng, chỉ còn 40 phiến quân còn sống. Bị thương ở đùi và bụng, Saigo nhờ người bạn Beppu Shinsuke cõng đến một nơi yên tĩnh để thực hiện seppuku. Sau khi thủ lĩnh của họ đã chết, Beppu dẫn đầu các samurai còn lại tiến hành một cuộc tấn công tự sát chống lại kẻ thù. Tiến về phía trước, họ bị súng Gatling của Yamagata hạ gục. Ngày 24 tháng 9 năm 1877 chứng kiến một trong những trận chiến cuối cùng kịch tính nhất trong lịch sử 500 Samurai trung thành với Saigo Takamori đã chiếm giữ các vị trí tại Shirayama, giám sát một đội quân gồm hơn 30.000 binh sĩ và thủy quân lục chiến của Đế quốc do Yamagata Aritomo và Đô đốc Kawamura Sumiyoshi chỉ huy. Sau này là họ hàng của Saigo, đã cầu xin thủ lĩnh cuộc nổi dậy đầu hàng nhưng không thành công.
2.2.2 Sự chuyển biến của Quân đội Nhật Bản sau cuộc binh biến Satsuma của Saigo Takamori
Trận chiến Hiroyama khiến quân nổi dậy thiệt hại toàn bộ lực lượng, bao gồm cả Saigo Takamori nổi tiếng. Tổn thất của hoàng gia không được biết đến. Thất bại ở Hiroyama đã chấm dứt Cuộc nổi dậy Satsuma và bẻ gãy lưng của tầng lớp samurai. Vũ khí hiện đại đã chứng tỏ tính ưu việt của chúng và con đường đã được vạch ra cho việc xây dựng một quân đội Nhật Bản hiện đại, phương Tây hóa bao gồm mọi người thuộc mọi tầng lớp. Trận chiến bắt đầu và bất chấp sự kháng cự anh dũng, quân đội Satsuma vẫn bị tiêu diệt. Không ai sống sót, kể cả Saigo Takamori. Các Samurai đã biến mất khỏi lịch sử và cuộc Minh Trị Duy tân sẽ đưa Đế quốc Nhật Bản trở thành cường quốc thống trị ở Đông Á. Năm 1877, Chính quyền Minh Trị tiến hành chấm dứt các đặc quyền của tầng lớp Samurai. Tuy nhiên, các vấn đề nảy sinh với Samurai lại không trở thành bất đồng then chốt khiến Takamori từ quan.
Cuộc nổi dậy Satsuma của Saigo Takamori đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử quân đội Nhật Bản. Cuộc nổi dậy buộc chính phủ phải thừa nhận những hạn chế của tầng lớp samurai truyền thống và thúc đẩy một loạt cải cách nhằm tạo ra một lực lượng quân sự hiện đại và chuyên nghiệp. Sự chuyển đổi của quân đội Nhật Bản sau Cuộc nổi dậy Satsuma đã đặt nền móng cho sự phát triển chính trị và quân sự trong tương lai của đất nước, đồng thời di sản của nó tiếp tục ảnh hưởng đến các chính sách quốc phòng và quan điểm chiến lược của Nhật Bản cho đến ngày nay. Một trong những thay đổi quan trọng nhất bắt nguồn từ Cuộc nổi loạn Satsuma là việc bãi bỏ tầng lớp samurai và thành lập một quân đội hiện đại, dựa trên thành tích. Cuộc nổi dậy đã bộc lộ những hạn chế của đặc tính chiến binh truyền thống và nêu bật sự cần thiết của một lực lượng quân sự chuyên nghiệp và kỷ luật hơn. Do đó, chính phủ đã thực hiện một loạt biện pháp để tích hợp các cựu samurai vào cơ cấu quân đội mới, bao gồm cả việc cung cấp cho họ các chức vụ sĩ quan và hạ sĩ quan. Điều này không chỉ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ chế độ phong kiến sang chế độ hiện đại mà còn đảm bảo rằng quân đội có thể tiếp thu chuyên môn và kinh nghiệm của tầng lớp samurai.Bất chấp những nỗ lực cải cách sau đó vào năm 1889, là một đội quân gồm những đứa trẻ nông dân nghèo được lãnh đạo bởi giới tinh hoa còn sót lại của một xã hội coi thường binh lính. Loại chế độ quân dịch quy mô lớn được tạo ra đòi hỏi một khuôn khổ quân sự hiện đại hóa để tập hợp, lập hồ sơ, huấn luyện và đóng quân cho những đội quân đó, đồng thời theo dõi quân dự bị nếu họ cần đáp lại lời kêu gọi vũ trang. Nhật Bản dựa vào các cố vấn nước ngoài để hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội hiện đại.Trong thời kỳ Minh Trị Duy tân, các cố vấn Pháp là một trong những người nổi bật nhất và sự nổi bật đó vẫn tiếp tục duy trì khi Nhật Bản tiếp tục hiện đại hóa. Đối mặt với tình trạng hỗn loạn chính trị và quân sự cũng như sự thay đổi về văn hóa, kết hợp với hiện đại hóa, nhiều người trong chính phủ và quân đội Nhật Bản tin rằng chỉ có chiến tranh mới có thể đoàn kết nhân dân. Đại diện của Nhật Bản ở London nhận được tin vào tháng 3 năm 1894 rằng “Nếu chúng ta không có thứ gì đó để đánh lạc hướng sự chú ý của mọi người, chúng ta sẽ không thể làm dịu đi sự sôi sục này….”Lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, dư luận và quốc tế có vai trò quan trọng; một quốc gia hiện đại, đặc biệt là một quốc gia mới nổi bị các cường quốc thế giới ở châu Âu coi là thấp kém về mặt chủng tộc, không thể bắt đầu một cuộc chiến tranh mà không có lý do, dù mỏng manh đến đâu.Sẽ không lâu nữa, quân đội mới được hiện đại hóa của Nhật Bản sẽ thử sức mình trước quốc gia châu Á lâu đời nhất, dường như có ảnh hưởng và hùng mạnh nhất: Trung Quốc. Chưa đầy một thập kỷ sau, Nhật Bản một lần nữa lại thử thách chính mình, lần này là trước một kẻ thù đáng gờm hơn nhiều, người Nga. Cả hai lần Nhật Bản đều sẽ thắng và cả hai lần Thái Bình Dương sẽ không bao giờ giống nhau. Giống như các cường quốc châu Âu, sức mạnh quân sự là trụ cột quan trọng trong việc xây dựng quốc gia ở Nhật Bản thế kỷ 19. Một năm sau khi áp dụng giáo dục bắt buộc, những người sáng lập Đế quốc Nhật Bản đã đặt nền móng cho một cơ sở quân sự hiện đại. Mặc dù ban đầu là nguồn gốc của cuộc tranh luận, chế độ quân địch quốc gia đã tạo ra một lực lượng vũ trang mà đến năm 1877 đã đánh bại cuộc kháng chiến phong kiến cuối cùng (cuộc nổi dậy samurai) đối với nhà nước hiện đại. Quan trọng hơn, bằng cách cho thanh niên Nhật Bản thuộc mọi tầng lớp trên khắp Nhật Bản được tiếp cận với một bộ đồng phục các cuộc tập trận, thức ăn, quần áo và bài hát, chế độ tòng quân đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức dân tộc. Trưởng thành sau Chiến tranh Pháp - Phổ, quân đội hiện đại của Nhật Bản đi theo làn sóng chuyên nghiệp hóa quân sự thời hậu chiến ở Châu Âu. Tokyo đã thành lập Bộ Tổng tham mưu tự trị vào năm 1878 và thành lập Trường Cao đẳng Chiến tranh Lục quân vào năm 1883. Bản chỉ dẫn Hoàng gia dành cho Binh lính và Thủy thủ năm 1882 đã thánh hóa địa vị đặc biệt của quân đội hiện đại bằng cách nhấn mạnh mối quan hệ trực tiếp với hoàng đế. Mối quan hệ này được chính thức hóa vào năm 1890 khi Hiến pháp Minh Trị chỉ định hoàng đế làm tổng tư lệnh. Hai sắc lệnh của hoàng gia vào năm 1900 yêu cầu các chức vụ trong nội các của bộ trưởng lục quân và hải quân phải là các sĩ quan tại ngũ. Vào giữa những năm 1880, nền quân sự hiện đại của Nhật Bản đã xác định sự ổn định của lục địa là một ưu tiên chiến lược và ủng hộ việc mở rộng cả lực lượng lục quân và hải quân theo hướng đó. Nó đặt nền móng cho cả một cơ sở quân sự tấn công mạnh mẽ và đế chế lục địa. Quả thực, dưới danh nghĩa bảo đảm “nền độc lập” của Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ tiến hành chiến tranh chống lại Trung Quốc vào năm 1894-95 và với Nga vào năm 1904-1905. Trước Chiến tranh Nga - Nhật (1903), quân đội đã tăng lên 13 sư đoàn và Hải quân Đế quốc có 76 tàu với tổng trọng tải 250.000 tấn. Trong và ngay sau Chiến tranh Trung-Nhật, chi tiêu quốc phòng đã tăng lên 63,2% ngân sách quốc gia.
Những chiến thắng quân sự ấn tượng này đã nâng nền quân sự Nhật Bản lên đến đỉnh cao quyền lực chính trị và tạo ra một kế hoạch đầy tham vọng cho tương lai. Kế hoạch Phòng thủ Quốc gia Cơ bản năm 1907 vạch ra một “sự mở rộng ổn định” các lợi ích của Nhật Bản ở Mãn Châu, Triều Tiên, thậm chí cả Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Nó kêu gọi một sự tăng cường lớn nữa của lực lượng vũ trang Nhật Bản, lên 25 sư đoàn thường trực cho lục quân (với khả năng huy động gấp đôi) và hai hạm đội chiến đấu, mỗi hạm đội do tám tàu chiến thủ đô chỉ huy, cho hải quân. Quan trọng nhất, cách thức ban hành kế hoạch đã nêu bật quyền tự chủ quân sự ngày càng tăng từ sự cai trị dân sự. Nó được quân đội soạn thảo độc quyền, trình lên hoàng đế và được hoàng đế ban cho nội các phê chuẩn mà không cần sửa đổi. Là công trình chủ yếu của Thống chế Yamagata Aritomo và cấp phó của ông, Trung tá Tanaka Giichi (1864-1929), hơn nữa, đề xuất này đã củng cố quyền lực của quân đội đối với hải quân bằng cách xác định, lần đầu tiên bằng văn bản, quân đội là lực lượng tuyến phòng thủ đầu tiên của đế quốc. Cùng năm đó, một sắc lệnh quân sự mới đặt các quyết định về tổ chức quân sự, giáo dục, nhân sự và các quy tắc giao chiến vào tay quân đội mà không cần có chữ ký của thủ tướng hoặc Hội đồng Cơ mật cân nhắc. Vào tháng 12 năm 1908, bộ trưởng chiến tranh mất quyền phê duyệt những thay đổi trong kế hoạch quốc phòng và cấp độ lực lượng, do đó tăng quyền tự chủ của bộ tổng tham mưu cho Bộ Chiến tranh. Trong khi chiến thắng quân sự trước Nga mang lại sự xác nhận mạnh mẽ cho sự thành công của dự án xây dựng đất nước Minh Trị, thì cái chết của người đàn ông mà tất cả các cuộc cải cách lớn đều được theo đuổi đã đặt ra những câu hỏi cơ bản về quỹ đạo phù hợp cho tương lai. Quan trọng hơn, nền hòa bình bền vững sau Chiến tranh Nga-Nhật đã gây ra những trở ngại lớn cho việc mở rộng lãnh thổ không giới hạn và tăng cường quyền lực quân đội như được hình dung trong Kế hoạch cơ bản về phòng thủ quốc gia năm 1907. Trong khi Nghị viện Hoàng gia ( quốc hội ) thông qua ngân quỹ cho sáu sư đoàn lục quân mới và hai tàu chiến lớp dreadnought trong và ngay sau chiến tranh, từ năm 1908 đến năm 1911, các Nghị sĩ Nhật Bản đặt ra mức trần cho mọi chi tiêu quân sự. Khi cải cách hành chính giải phóng các khoản tiền mới cho quốc phòng vào năm 1911, ưu tiên ngân sách đã chuyển sang hải quân. Yamagata và những người ủng hộ ông trong quân đội đã thất kinh chứng kiến hai nội các liên tiếp cấp vốn cho việc hiện đại hóa hải quân mà không cung cấp cho mục tiêu thời bình mới của quân đội là 25 sư đoàn. Khi Bộ trưởng Chiến tranh Uehara Yūsaku (1856-1933) từ chức để phản đối vào tháng 12 năm 1912, ông không nhận được thêm nguồn tài trợ cho quân đội mà còn làm xói mòn thêm quyền lực của quân đội. Vào tháng 2 năm 1913, một liên minh các đảng chính trị đã lật đổ nội các đầu sỏ lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản (Khủng hoảng chính trị Taishou). Nội các tiếp theo (tháng 2 năm 1913 đến tháng 4 năm 1914), do Đô đốc Hải quân Yamamoto Gonnohyōe (1852-1933) lãnh đạo và được hỗ trợ bởi Hiệp hội Lập hiến của Đảng Bạn bè Chính trị ( Rikken Seiyūkai ) đa số trong Quốc hội, tiếp tục loại bỏ đặc quyền của quân đội; nó loại bỏ yêu cầu nghĩa vụ tích cực đối với các bộ trưởng phục vụ vào năm 1900 mà Bộ trưởng Chiến tranh Uehara và quân đội đã sử dụng để lật đổ nội các Saionji thứ hai. Hơn nữa, nó còn xâm nhập vào vùng đất thiêng liêng của quân đội ở Mãn Châu bằng cách cho phép bổ nhiệm các đảng viên Seiyūkai vào vị trí lãnh đạo Đường sắt Nam Mãn Châu.
Trước tình hình suy thoái của Quân đội Đế quốc và phe lãnh đạo chính của nó từ lãnh địa phong kiến Chōshū trước đây , trưởng lão Chōshū Inoue Kaoru (1836-1915) có thể hiểu rằng sự bùng nổ chiến tranh ở Châu Âu vào năm 1914 là “sự trợ giúp thần thánh của thời đại Taishou mới cho sự phát triển vận mệnh của Nhật Bản.” Vì sự mở rộng mạnh mẽ đầu tiên của Quân đội và Hải quân Đế quốc đã được đảm bảo bởi các cuộc Chiến tranh Trung-Nga-Nhật, một cuộc giao chiến quân sự khác, người ta hy vọng một phần, sẽ đưa quân đội trở lại đúng hướng để hoàn thành các dự đoán của Kế hoạch cơ bản quốc phòng năm 1907. Quả thực, Nghị viện thứ ba mươi tư (4-9 tháng 9 năm 1914) đã nhất trí thông qua ngân sách chiến tranh, và trong khi ngân sách này bao gồm kinh phí cho 10 tàu khu trục mới cho hải quân, Nghị viện thứ ba mươi sáu (20 tháng 5 - 9 tháng 6 năm 1915) cuối cùng đã phê chuẩn Nghị quyết kế hoạch mở rộng hai sư đoàn của quân đội mà ban đầu đã gây ra cuộc Khủng hoảng Chính trị Đại Chính.
Cuộc Đại chiến cũng mang lại lợi ích trên chiến trường cho cả hai quân chủng. Sau cuộc chinh phục Samoa thuộc Đức của New Zealand (30 tháng 8) và việc Úc chiếm đóng New Guinea thuộc Đức (13 tháng 9), Hải quân Đế quốc nắm quyền kiểm soát Micronesia thuộc Đức (Quần đảo Marshall, Mariana và Caroline) vào tháng 10 năm 1914. Vào ngày 7 tháng 11 năm 1914, 29.000 người Quân đội Đế quốc và 2.800 lính đồng minh Anh đã ghi lại chiến thắng lớn thứ hai của quân đồng minh trong Đại chiến (sau Trận Marne lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1914) bằng cách đánh bại pháo đài của Đức tại Thanh Đảo , Trung Quốc. [12] Từ năm 1916 cho đến khi chiến tranh kết thúc, một hải đội tuần dương Nhật Bản ở Ấn Độ Dương và đội tàu khu trục ở eo biển Malacca đã giúp bảo vệ các đoàn tàu vận tải của quân đội Úc và New Zealand từ Thái Bình Dương đến Aden. Từ năm 1917, hai tàu tuần dương Nhật Bản tuần tra Mũi Hảo Vọng và hai hải đội tàu khu trục tham gia truy lùng tàu ngầm Đức ở Địa Trung Hải. Sự chuyển đổi của quân đội Nhật Bản trong và sau cuộc nổi dậy Satsuma có tác động sâu sắc đến lịch sử Nhật Bản. Một trong những hậu quả quan trọng nhất của cuộc nổi dậy là sự kết thúc của tầng lớp samurai và hệ thống phong kiến vốn là đặc trưng của xã hội Nhật Bản trong nhiều thế kỷ. Sự thất bại của Saigo Takamori và quân nổi dậy đánh dấu sự bác bỏ cuối cùng các giá trị samurai truyền thống và sự thống trị của một nhà nước tập trung, hiện đại. Hơn nữa, cuộc nổi dậy đã chứng tỏ tính hiệu quả của quân đội hiện đại của chính phủ Meiji và khả năng duy trì quyền kiểm soát đất nước. Thành công của chính phủ trong việc trấn áp cuộc nổi dậy đã củng cố quyền lực của mình và mở đường cho quá trình hiện đại hóa và phương Tây hóa hơn nữa. Sự chuyển đổi của quân đội Nhật Bản cũng góp phần đưa Nhật Bản nổi lên như một cường quốc khu vực và toàn cầu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sự biến đổi của quân đội Nhật Bản có cả mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, nó cho phép Nhật Bản hiện đại hóa và tăng cường quân đội, điều này đóng vai trò quan trọng trong việc Nhật Bản trở thành một cường quốc ở Đông Á. Việc hiện đại hóa quân đội cũng góp phần trấn áp bất đồng chính kiến trong nước và củng cố chính quyền trung ương. Tuy nhiên, sự chuyển đổi của quân đội Nhật Bản cũng gây ra những hậu quả tiêu cực, đặc biệt đối với tầng lớp samurai truyền thống, lối sống và địa vị xã hội của họ trên thực tế đã bị xoá bỏ.
2.3 Kết quả quá trình Âu hoá Quân đội Nhật Bản thời kì Meiji.
2.3.1 Thành tựu
Quá trình cải cách và Âu hóa quân đội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị Duy Tân đã đạt được những thành công nhất định. Quân đội Nhật Bản được cải tổ theo mô hình quân đội phương Tây, trang bị vũ khí hiện đại và tăng cường sức mạnh. Điều này giúp Nhật Bản giành chiến thắng trong các cuộc chiến với Trung Quốc và Nga, khẳng định vị thế cường quốc của mình.
Mặc dù cuộc Minh Trị Duy Tân đã gây ra nhiều tổn thương và bất ổn xã hội ở Nhật Bản, nhưng nó cũng giúp nước này gia nhập hàng ngũ các cường quốc thế giới vào đầu thế kỷ 20. Nhật Bản sẽ tiếp tục có được quyền lực lớn hơn bao giờ hết ở Đông Á cho đến khi làn sóng bất lợi xảy ra trong Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, ngày nay Nhật Bản vẫn là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới và là quốc gia dẫn đầu về đổi mới và công nghệ - phần lớn nhờ vào những cải cách của thời Minh Trị Duy tân. Nhật Bản được củng cố nhờ quá trình công nghiệp hóa do chính phủ tài trợ nên nước này có thể cạnh tranh ngang hàng với các cường quốc đế quốc.
Sự tái tổ chức quân sự của Nhật Bản đã khiến nước này trở thành một cường quốc lớn trên thế giới. Với thiết giáp hạm, súng cối và súng máy, Nhật Bản sẽ đánh bại người Trung Quốc trong Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất 1894-1995, và sau đó khiến châu Âu choáng váng khi đánh bại người Nga trong Chiến tranh Nga - Nhật 1904 -1905. Nhật Bản sẽ tiếp tục đi theo con đường ngày càng quân phiệt trong bốn mươi năm tiếp theo.
Mặc dù xét về mặt số lượng, các lực lượng vũ trang không chiếm tỷ trọng lớn trong xã hội Nhật Bản (con số khoảng 41.000 vào năm 1878 và 73.000 vào năm 1883, xây dựng sức mạnh thời chiến khoảng 200.000, tác động và ảnh hưởng hiện đại hóa của chúng đối với các lĩnh vực khác như giáo dục, sức khỏe và công nghiệp thật tuyệt vời.
Quân đội là lực lượng đầu tiên hiện đại hóa về trang phục, công nghệ và tuyển dụng cố vấn nước ngoài. Nghĩa vụ quân sự và cuộc sống quân ngũ hoàn toàn xa lạ với những người lính mới. Giày, quần, giường, đồ ăn đóng hộp, bánh mì, bia và thuốc lá dần dần thâm nhập vào xã hội nói chung. Sự pha trộn của các tân binh từ các khu vực khác nhau và sự khắc nghiệt của đời sống quân ngũ đã dẫn đến sự phá bỏ nhiều điều cấm kỵ và phong tục của làng.
2.3.2 Hạn chế
Cuộc cải cách quân sự trong quân đội Nhật Bản thời Meiji được coi là một bước quan trọng trong quá trình xây dựng quân đội hiện đại của đất nước này. Tuy nhiên, như bất kỳ cuộc cải cách nào, cải cách quân đội Nhật Bản thời Meiji cũng đối mặt với những hạn chế. Một trong những hạn chế lớn nhất của cuộc cải cách quân đội Nhật Bản thời Meiji là sự tồn tại của truyền thống năng lượng cũ. Trong quá khứ, quân đội Nhật Bản được tổ chức theo mô hình truyền thống của samurai và daimyo, với tập trung quyền lực trong tay các thế lực phong kiến. Khi thời Minh Trị bắt đầu, việc thực hiện cuộc cải cách quân sự phải sự mạnh mẽ từ các thần phái cũ, những người không muốn thay đổi cách tổ chức và quản lý quân đội.
Một hạn chế khác của cuộc cải cách quân sự trong quân đội Nhật Bản thời Meiji là thiếu ánh sáng về kiến trúc công nghệ và chiến lược quân sự. Trong những thập kỷ đầu của thời Minh Trị, Nhật Bản vẫn đang nghiên cứu các câu hỏi từ các nước phương Tây về công nghệ và chiến lược quân sự. Do đó, quá trình cải tiến quân sự có thể phải đáp ứng những trở ngại trong việc áp dụng những kiến thức mới này vào thực tiễn. Thêm vào đó, nguồn tài nguyên chính chế độ cũng là một công thức lớn cho cuộc cải cách quân sự trong quân đội Nhật Bản thời Meiji. Xây dựng một quân đội hiện đại và mạnh mẽ đòi hỏi một lượng lớn vật liệu và nguồn lực, nhưng trong thời kỳ Meiji, Nhật Bản vẫn phải giải quyết vấn đề phát triển kinh tế rẻ nhất.
Vận dụng và sử dụng quá nhiều mô hình quân đội của nhiều quốc gia như Pháp, Mỹ, Anh,... Sẽ gây khó trong vận hành, biến quân đội Nhật trở thành 1 quân đội chỉ biết chiến tranh khi bành trướng xâm lược khắp mọi nơi, mặc dù không trở thành thuộc địa của cường quốc phương Tây, nhưng khi chuyển đổi quân sự sang mô hình phương Tây, Nhật bản phải nhượng bộ và chấp nhận yêu sách của các nước Phương Tây đặc biệt là Mĩ. Sự thay đổi quá đột ngột trong cải cách đặc biệt là chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc gây nên mâu thuẫn giữa hệ thống quân sự cũ mà đứng đầu là các Samurai cùng với người dân đối với hệ thống quân sự mới phương Tây, gây nên nhiều cuộc chiến phản đối của các Samurai và nông dân với quân đội Thiên Hoàng. Những người nổi dậy được trang bị súng từ phương Tây, và một cuộc nội chiến nổ ra vào năm 1866. Khi các lực lượng chống chính phủ thể hiện ưu thế quân sự của họ, động lực bắt đầu chuyển sang có lợi cho phe nổi dậy. Việc lật đổ Mạc phủ Tokugawa hoàn tất vào năm 1868, khi những nhà cải cách chiến thắng tuyên bố rằng họ đã khôi phục ngai vàng cho hoàng đế. Danh hiệu của ông là Meiji, hay Người giác ngộ. Cả nước tập hợp xung quanh vị hoàng đế 16 tuổi, và các kế hoạch đã được thực hiện để chuyển “sự hiện diện” của đế quốc đến thủ đô được đổi tên thành Tokyo (Thủ đô phía Đông). Sự chuyển đổi này trong lịch sử Nhật Bản có thể được coi vừa là một sự phục hồi vừa là một cuộc cách mạng. Trong khi hoàng đế được khôi phục quyền lực trên danh nghĩa thì quyền lực thực sự thuộc về giới quý tộc. Một cơ quan lập pháp quốc gia gọi là Quốc hội được thành lập, nhưng thượng viện quý tộc nắm quyền kiểm soát chính. Nó đã cải cách Nhật Bản một cách triệt để. Các trường công lập bắt buộc được thành lập. Chế độ phong kiến đã bị bãi bỏ và việc sở hữu vũ khí không còn bị giới hạn ở tầng lớp samurai. Một số samurai không hài lòng, không chỉ vì bị mất đặc quyền mà còn vì việc Nhật Bản áp dụng rộng rãi các đường lối “man rợ”. Kết quả là Cuộc nổi loạn Satsuma (1877) chứng kiến các samurai theo chủ nghĩa truyền thống phát động một cuộc nội chiến ngắn ngủi. Tuy nhiên, cả hai bên đều chiến đấu bằng vũ khí hiện đại. Cuối cùng, đội quân lính nghĩa vụ nông dân của chính phủ đã đánh bại quân nổi dậy.
Trong chính sách quân sự của chính quyền trung ương thời kỳ này, chế độ nhân tài và chủ nghĩa chức năng rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, điều này thường bị hạn chế trong những tình huống cần cân bằng an ninh kinh tế và xã hội cho sự tồn tại của các thành viên. Có thể nói, cả hai chính quyền đều không thể bỏ qua các vấn đề liên quan đến sự sống còn của các nhóm ủng hộ họ. Hơn nữa, cả hai chính quyền đều chia sẻ quyền lực to lớn của các cơ quan tài chính, và các cơ quan phụ trách các vấn đề tài chính và các vấn đề tài chính đóng một vai trò lớn trong việc hình thành tổ chức thực tiễn hoặc lĩnh vực quân sự liên quan đến quân sự. Chúng có thể được đánh giá là có chức năng giữ quân đội trong một khuôn khổ nhất định và phân định lãnh thổ của quân đội.
CHƯƠNG III: ÂU HÓA QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN THỜI MEIJI – TIỀN ĐỀ VƯƠN LÊN CỦA ĐẠI NHẬT ĐẾ QUỐC (MEIJI – CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ 2)
3.1 Sự bành trướng lãnh thổ
Trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận nhiều yếu tố mới như văn hóa, ý tưởng và hệ thống từ các quốc gia phương Tây, đồng thời nhằm mục tiêu mở rộng lãnh thổ và phát triển thành một quốc gia hiện đại. Trong Chiến tranh Trung - Nhật và Hàn Quốc, họ đã thành công trong việc xâm chiếm Đài Loan và nhận được tư cách là một nước chư hầu, cũng được cho là nước sản xuất gạo lớn của Triều Tiên.
Do ý tưởng “rời châu Á và vào châu Âu”: Kết quả là Nhật Bản cũng xâm chiếm Hàn Quốc và biến Hàn Quốc thành quốc gia cai trị, nhưng người ta nói rằng Nhật Bản có những ý tưởng hoàn toàn khác vào đầu thời Minh Trị. Khi Nhật Bản lần đầu tiên mở cửa với thế giới, nước này đã xây dựng hệ thống hợp tác với nhà Thanh (Trung Quốc) và Hàn Quốc thời Minh Trị”, nhằm thống nhất châu Á và trở thành một cường quốc quốc gia có khả năng sánh vai với châu Âu và Mỹ. Để phòng thủ trước các nước phương Tây: Mặc dù giấc mơ thành lập liên minh với Hàn Quốc và nhà Thanh để chống lại mối đe dọa từ các cường quốc phương Tây chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng điều này không có nghĩa là Nhật Bản sẽ không làm gì giống Hàn Quốc và nhà Thanh. Nhật Bản thời Minh Trị là một quốc gia bí ẩn còn sót lại ở Viễn Đông và các nước phương Tây muốn bằng cách nào đó đưa Nhật Bản vào tầm kiểm soát của mình nên rõ ràng là nếu mất cảnh giác, họ sẽ trở thành một nước chư hầu ở đâu đó. Để Nhật Bản có thể tự vệ như một quốc gia thống nhất, cần phải chuẩn bị trang bị quân sự và mở rộng lãnh thổ, và vì mục đích đó, họ tin rằng việc giành được lãnh thổ trong chiến tranh cuối cùng sẽ giúp bảo vệ đất nước của họ. Hiệp ước Thân thiện Nhật Bản - Triều Tiên là một hiệp ước bất bình đẳng yêu cầu mở hải cảng, bao gồm cả Busan, đồng thời trao cho Nhật Bản quyền tài phán lãnh sự và miễn thuế hải quan.Sau khi Hàn Quốc mở cửa với thế giới, xung đột vũ trang đã nổ ra giữa các lực lượng thân Nhật và các lực lượng chống Nhật ở Hàn Quốc, với các lực lượng thân Nhật dựa vào Nhật Bản và các lực lượng chống Nhật dựa vào nhà Thanh, dẫn đến tình thế cả hai nước đều can thiệp bằng vũ lực. Vì thất vọng với cả hai nước, họ phủ nhận tình đoàn kết ở châu Á, chủ trương Nhật Bản nên rời khỏi Châu Á và trở thành thành viên của các cường quốc phương Tây, đồng thời yêu cầu giải quyết Trung Quốc và Triều Tiên bằng vũ lực, kêu gọi đối đầu quân sự. Sau khi Nhật Bản giành chiến thắng trong Chiến tranh Nga - Nhật 1904-1905, Hiệp ước Portsmouth buộc Nga phải công nhận đầy đủ quyền lãnh đạo và giám sát Triều Tiên của Nhật Bản. Chính phủ Hàn Quốc đã bổ nhiệm một cố vấn tài chính và ngoại giao do Nhật Bản giới thiệu, người được ủy quyền tham vấn trước với chính phủ Nhật Bản về các vấn đề ngoại giao quan trọng.Để đáp lại, Hoàng đế Hàn Quốc Kojong đã phản đối các quyền lực vào năm 1907, nhưng bị phớt lờ (Sự cố sứ giả Hague).Hậu quả của sự việc này là Nhật Bản đã thoái vị Hoàng đế Gojong của Triều Tiên, ký kết Hiệp ước Nhật-Hàn lần thứ ba, nắm quyền kiểm soát chính quyền nội bộ của Triều Tiên và giải tán quân đội Triều Tiên.
Năm 1909 (Meiji 42), chính phủ Nhật gửi thêm quân đến trấn áp phong trào tình nguyện, nhưng giữa lúc này, cựu Giám đốc Hirobumi Ito đã tấn công nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa Hàn Quốc Ahn Jung-geun tại ga Cáp Nhĩ Tân và sẽ bị ám sát.Chính phủ Nhật Bản đã có sự chuẩn bị như đóng quân thường trực cho quân cảnh và buộc sáp nhập Triều Tiên vào năm 1910, biến nước này thành thuộc địa (sáp nhập Triều Tiên ). Để giải quyết vấn đề này, họ đã tìm kiếm tài nguyên, đất đai và lợi ích ở Trung Quốc đại lục, đồng thời tăng cường mở rộng sang vùng đông bắc Trung Quốc.Năm 1911 (Minh Trị 44), nhà Thanh gặp nhiều vấn đề trong và ngoài nước và mất khả năng cai trị đã bị lật đổ bởi Cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Trong tình hình đó, Tưởng Giới Thạch , một lãnh chúa đóng tại Nam Kinh, ngày càng nắm quyền, và từ năm 1924 trở đi, do hoạt động của Quân đội Cách mạng Quốc gia do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, việc xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc không được suôn sẻ. Mặc dù họ đã thành công trong việc giết anh ta, nhưng sự thật rằng đó là một âm mưu của Nhật Bản đã bị rò rỉ đến các lãnh chúa, và các lãnh chúa đã hình thành mối quan hệ hợp tác với Quân đội Cách mạng Quốc gia, vốn là kẻ thù của họ và xảy ra xung đột với Nhật Bản.Kết quả là Nhật Bản đã làm suy yếu ảnh hưởng của mình ở Trung Quốc. Chiến thắng của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất (1894-1895) đã buộc Trung Quốc phải rút khỏi Triều Tiên. Tuy nhiên, quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với bán đảo Triều Tiên nhanh chóng bị các cường quốc châu Âu như Nga thách thức. Nhưng quân đội Nhật Bản đã phát triển kể từ thời Minh Trị Duy Tân nên Chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) kết thúc với thắng lợi thuộc về Nhật Bản.
3.2 Tiền đề phát triển đối với thuyết Đại Đông Á
Trong thế kỷ 20, Nhật Bản đã trở thành một trong những quốc gia nổi tiếng với việc phát triển thuyết đại Đông Á hay chủ nghĩa Á đông. Thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản ảnh hưởng rất lớn đến chính trị và xã hội của khu vực Châu Á Thái Bình Dương và đã tạo ra những hậu quả lớn trên toàn cầu. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về tiền đề phát triển thuyết đại Đông Á của Nhật Bản, chúng ta cần phải đi sâu vào lịch sử và văn hoá của đất nước này. Tại Nhật Bản, thuyết đại Đông Á lấy nguồn từ một số yếu tố lịch sử và xã hội. Đầu tiên, tầm nhìn và ảo tưởng của đế quốc Đông Á đã xuất hiện từ thời Edo (1603-1868), khi chính phủ Tokugawa đã áp dụng chính sách cô lập quốc gia.Là một quốc gia cổ xưa và có văn minh phong kiến trúc lâu đời, Nhật Bản luôn khát khao mở rộng ảnh hưởng của mình tới các khu vực khác. Trong giai đoạn thuộc địa, Nhật Bản phải chịu sự kiểm soát của phương Tây và chính sách mở cửa của quốc gia đã suy sụp nhu cầu cạnh tranh với các nước phương Tây. Vì vậy, thuyết đại Đông Á đã trở thành một phần quan trọng của đối sách chính của Nhật Bản.Từ các tầm nhìn và tư tưởng ban đầu, thuyết đại Đông Á đã được phát triển vào những năm 1930 và 1940. Khi đó, quân đội Nhật Bản lược lược và chiếm đóng một số quốc gia châu Á Thái Bình Dương đã và gây ra nhiều mất mát lớn lao. Thuyết đại Đông Á đã được sử dụng như một công cụ chính trị để đưa ra một cách lý tưởng và lý tưởng cho việc mở rộng lãnh thổ của Nhật Bản.
“Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” là khẩu hiệu được Tokyo và quân đội Nhật đề xướng trong thời kỳ Chiêu Hòa để thực hiện tham vọng tạo ra một khối các quốc gia Châu Á do Nhật Bản lãnh đạo mà không phụ thuộc vào Phương Tây. Khẩu hiệu này được Thủ tướng Fumimaro Konoe trong nổ lực nhằm tạo ra một “Đại Đông Á” bao gồm các quốc gia: Nhật Bản, Mãn Châu Quốc và Trung Hoa và một phần các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Với mục đích trên, theo bộ máy tuyên truyền của chính quyền Tokyo là thiết lập một “TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI” nhằm tìm kiếm sự “thịnh vượng chung” cho các quốc gia Châu Á, cùng chia sẻ sự thịnh vượng và hòa bình và hoàn toàn không lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân và sự thống trị của Phương Tây. Tuy nhiên, khái niệm nầy được Tokyo chỉ dùng để biện minh cho chính sách xâm lược của Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến khi chấm dứt Thế chiến II và thuật ngữ “Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á” chỉ là tấm bình phong cho sự thống trị của Đế quốc Nhật Bản tại các quốc gia chiếm đóng trong Thế chiến II. Cũng như Đức Quốc Xã, học thuyết “Đại Đông Á” phát xuất từ quan niệm dân tộc Phù Tang là dân tộc thượng đẳng, so với các dân tộc Châu Á khác. Nó đã được thành hình vào khoảng thế kỷ 19. Học giả Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Vai Trò nước Nhật ở Châu Á” được công bố vào năm 1882 ủng hộ mạnh mẽ cách nhìn về Đế quốc Nhật Bản và vai trò hiển nhiên là nước lãnh đạo của toàn Châu Á. Bước vào thế kỷ 20, một học giả “dân tộc cực đoan khác” là Kita Ikki đã thu hút được nhiều sự chú ý của độc giả Nhật, khi ông đưa ra nhận định về sứ mạng của nước Nhật với vai trò đưa Châu Á thoát khỏi ách đô hộ của Đế quốc Thực dân Phương Tây, thậm chí bằng khả năng gây chiến tranh nếu cần. Vì vậy, vào năm 1905, Đế quốc Nhật gây chiến đánh thắng Đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905). Cuộc chiến tranh được lưu danh vào lịch sử thế giới là một quốc gia Châu Á đầu tiên đã đánh bại một Đế quốc Phương Tây, góp phần định hướng cho một vai trò lớn hơn của nước Nhật sau nầy. Kinh tế cũng là yếu tố quan trọng trong quyết định đưa ra tuyên bố học thuyết “Đại Đông Á” lần đầu tiên vào năm 1940. Nhật Bản có nhu cầu rất lớn về các nguyên liệu thô như dầu ở Đông Ấn hay cao su của Đông Dương nhằm duy trì sản xuất và nhu cầu cho quân đội đang chiếm đóng Trung Hoa. Hành động nghiêm cấm chuyên chở dầu, nguyên liệu thô và sắt thép đến Nhật Bản của Hoa Kỳ và các quốc gia Phương Tây đã thúc đẩy Tokyo tìm các nguồn cung ứng khác ở các quốc gia Châu Á để thay thế, và đây cũng là nguyên do Nhật vận động các nước trong khu vực Đông Á tham gia vào khối thịnh vượng chung “Đại Đông Á” thì Nhật Bản mới có thể duy trì được việc sản xuất hàng hóa cho các thị trường xuất cảng.
Ngoài các nguyên nhân trên, tham vọng về một địa chính trị quốc tế cũng đã góp phần đưa đến sự ra đời của “Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á”. Từ cuối thế kỷ thứ 19, các nhà hoạch định chính sách của Nhật tin rằng: nước Nhật cũng có quyền ngang hàng với các nước “Đế quốc Phương Tây” trong việc mở rộng và duy trì thuộc địa của họ ở Châu Á. Tin rằng, việc làm đó sẽ là điều kiện cơ bản giúp nước Nhật đạt được một vị trí quan trọng hơn trên vũ đài chính trị thế giới và được nhìn nhận Nhật Bản như một quốc gia thượng đẳng, ngang hàng với các quốc gia Phương Tây. Vì vậy, các Đế quốc Phương Tây đã phản đối các hành động nầy của Nhật bằng hàng loạt đưa ra các điều khoản bất bình đẳng đã gây ra bất bình với người Nhật. Trong các điều khoản được ký kết tại “Hội nghị Hải quân Quôc Tế” ở Washington (1922), buộc Nhật phải duy trì một tỉ lệ lực lượng tàu chiến là 3/5 so với Hoa Kỳ & Anh Quốc. Vào năm 1924, Hoa Kỳ thông qua dự luật ngưng tiếp nhận dân Nhật nhập cư từ Nhật Bản. Các chính trị gia Nhật dùng chủ thuyết “Châu Á phải dành cho người Á Châu” nhằm thuyết phục dân Nhật và các quốc gia Châu Á khác và phải có hành động cấp bách để giải phóng các nước Châu Á thoát khỏi ách nô lệ các Đế quốc Phương Tây. Nhưng, các quốc gia bị Đế quốc Nhật chiếm đóng sau đó đều nhận ra rằng, mọi thứ đã hoàn toàn khác hẳn với lời tuyên truyền trước kia về “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Các chính phủ do Nhật dựng lên trở thành bù nhìn. Nhân dân các nước bị Nhật chiếm đóng đã phải chịu đựng nhiều thống khổ do chính sách cai trị hà khắc của người Nhật. Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á chỉ là cái bánh vẽ, một dạng khác của chủ nghĩa đế quốc được Phương Tây đã thực hiện từ lâu. Nói tóm lại, “Khối Thinh vượng chung Đại Đông Á” đã không hoạt động vì sự phát triển của tất cả các quốc gia Đông Á mà chỉ phục vụ cho lợi ích của nước Nhật và do đó họ đã thất bại vì không tranh thủ được sự ủng hộ tại các quốc gia Đông Á. Học thuyết “Đại Đông Á” là một hệ thống các nguyên tắc về chính sách xâm lược và bành trướng của Đế quốc Nhật Bản do Thủ tướng Konoe đề ra ngày 1/8/1940 nhằm xây dựng một “khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật lúc bấy giờ là Mashuoka đã lên tiếng giải thích những nguyên tắc cho việc xây dựng một khu vực Đại Đông Á thịnh vượng và phát triển như sau: (1) Quân sự đồng minh. (2) Kinh tế hợp tác,(3) Văn hóa giao lưu. (4) Ngoại giao liên hiệp.(5) Chính trị độc lập. Nhưng, thực ra Học thuyết “Đại Đông Á” trong quá khứ lợi dụng sự khác biệt về chủng tộc, kích động sự hận thù của nhân dân Châu Á đối với Thực dân da trắng Phương tây nhằm lừa bịp các dân tộc Châu Á với những luận điệu như “đồng văn”, “đồng chủng”, cùng “máu đỏ da vàng” để các thế lực Quân Phiệt Nhật muốn đặt các dân tộc Châu Á bao gồm Trung Hoa, Mãn Châu Quốc, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines dưới ách thống trị của Nhật Bản, tranh giành các thuộc địa rộng lớn của các Đế quốc Phương Tây ở khu vực nầy nhằm khai thác, vơ vét tài nguyên, nhân lực để phục vụ cho các kế hoạch xâm lược.
Thuyết Đại Đông Á có ý nghĩa quan trọng đối với quan hệ của Nhật Bản với khu vực Đông Á. Nó không chỉ là một phần quan trọng của lịch sử và văn hóa của Nhật Bản mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì mối liên hệ hợp tác với các quốc gia trong khu vực. Học thuyết có ý nghĩa tích cực khi Nhật Bản áp dụng nó vào chính sách hợp tác kinh tế và phát triển khu vực như ASEAN và quan hệ hòa bình với các nước trong khu vực. Việc hợp tác này đã giúp tạo ra những mối quan hệ chặt chẽ và tạo cơ hội phát triển cho cả Nhật Bản và các quốc gia khác trong khu vực.
KẾT LUẬN
Trên hành trình lịch sử của Nhật Bản từ thời cổ đại đến hiện đại, đã diễn ra những cuộc cải cách trọng đại mang ý nghĩa phản ánh tình hình thời đại khác nhau. Đó là cải cách Taika vào năm 645, cải cách Minh Trị vào năm 1868 và cuộc cải cách sau năm 1945. Công cuộc duy tân Minh Tri ở Nhật Bản đã đạt được những thành công lớn và có tác động lớn nhất ở châu Á. Hơn 150 năm đã trôi qua, nhưng những bài học và kinh nghiệm từ Minh Trị duy tân vẫn giữ nguyên giá trị, đặc biệt là đối với các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình phát triển đất nước và công nghiệp hóa trong thời Minh Trị, Nhật Bản đã có nhiều kinh nghiệm quý báu về việc xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới, đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. “Cuộc Duy Tân Minh Trị (1858-1881) – Một Cuộc Cách Mạng Hiếm Thấy Trong Lịch Sử” tái hiện một giai đoạn đặc biệt của lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị. Qua cải cách Duy Tân Minh Trị quân đội Nhật là Quân đội quân phiệt mạnh mẽ hùng mạnh nhất Châu Á. Cải cách quân đội Nhật Bản thời Minh Trị là một quá trình quan trọng và phức tạp, có tác động sâu sắc đến sự phát triển của đất nước. Nó đã biến Nhật Bản từ một xã hội phong kiến, biệt lập thành một quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại với lực lượng quân sự hùng mạnh. Nội dung cải cách trong quân đội Nhật Bản thời Minh Trị cũng có những ý nghĩa quan trọng về xã hội, văn hóa và chính trị, cũng như những quan điểm khác nhau và những phát triển tiềm năng trong tương lai tiếp tục định hình vai trò của Nhật Bản trên thế giới. Điều cần thiết là phải xem xét cả khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc cải cách này để hiểu được ý nghĩa và di sản của nó trong lịch sử Nhật Bản.
Quân đội Nhật Bản đã tổ chức và huấn luyện theo cách tiếp cận phương Tây, áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự thay vì chế độ trưng binh, tăng cường mua sắm và sản xuất vũ khí, đạn dược nhằm phát triển nền công nghiệp quốc phòng. Minh Trị chính phủ thành lập một trường quân sự chuyên ngành và mời giảng viên quân sự nước ngoài về giảng dạy cũng như gửi sinh viên sĩ quan đến các nước phương Tây để học tập.Nói một cách cực đoan, hệ thống hiến pháp Minh Trị không gì khác hơn là một “công trình xây dựng tạm thời”, trong đó diện mạo của một nhà nước hiện đại được tạo ra nhanh chóng . Các cựu quân nhân như Hirobumi Ito đã nhận thức rõ điều này, Ito và những người khác sẵn sàng tận dụng cơ hội để sửa đổi hiến pháp theo cách phù hợp hơn với tình hình hiện tại. Sau Chiến tranh Trung-Nhật, Ito nỗ lực cải cách hiến pháp và quân đội cũng nhận thấy cần thiết . Tuy nhiên, sau chiến thắng trong Chiến tranh Nga-Nhật, động lực cải cách suy yếu . Các thủ lĩnh đạo quân đội như Taro Katsura, Gentaro Kodama, Kazunari Ugaki và Tetsuzan Nagata gặp bất hạnh khi chết trẻ, mất quyền lực hoặc bị sát hại. Cuối cùng, quân đội trở thành “nhà nước”.
Hệ thống hiến pháp Minh Trị, mặc dù ban đầu được xây dựng như một giải pháp tạm thời, nhưng sau đó đã trở thành một quy định cứng nhắc và không thể thay đổi khi nhiều thế hệ lãnh đạo chính trị thay đổi. Một ví dụ điển hình là việc "quyền chỉ huy" ban đầu được thiết lập để ngăn chặn sự can thiệp chính trị vào quân đội, nhưng sau đó lại trở thành thành công cụ để quân đội kiểm soát chính trị . Dù đó là vận mệnh của tổ chức chúng ta nhưng phải nói rằng cái giá phải trả nếu bỏ lỡ cơ hội cải cách là quá lớn. Quân đội cũng đã trải qua quá trình cải tiến để thực hiện cách thức hoạt động rất cổ xưa, cùng với tập trung vào huấn luyện viên 250.000 người trong quân đội , với sức mạnh đặc biệt đối với lòng trung thành và tôn kính đối với hoàng đế. Một nỗ lực khác là việc thành lập một mạng lưới lực lượng hải quân và các nhà máy đóng tàu, điều mà cho đến lúc đó vẫn còn thiếu.
Trong lịch sử của Nhật Bản, quân đội luôn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Vào thời Minh Trị (1868-1912), quân đội Nhật Bản đã trải qua quá trình đổi mới và hiện đại hóa cực kỳ quan trọng. Quá trình này không đánh dấu sự thay đổi lớn trong cấu trúc và chiến lược quân sự, mà vẫn có tác động lớn tới sự thay đổi của Nhật Bản trong công việc tham gia vào cộng đồng quốc tế . Trước thời Minh Trị bắt đầu, quân đội Nhật Bản chủ yếu dựa vào lực lượng samurai của các lãnh chúa phong kiến, và họ được hình thành và cổ vũ dưới triều đại Tokugawa. Khi Thế kỷ 19 bắt đầu, thế giới đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật quân sự và công nghiệp, làm cho quân đội Nhật Bản trở nên lạc hậu và không đủ sức mạnh để củng cố sức mạnh phương Tây. Vào năm 1868, Cách mạng Meiji tiến hành và việc hiện đại hóa quân đội trở nên cực kỳ quan trọng. Qua một loạt các cải cách, quân đội Nhật Bản đã trải qua quá trình đào tạo sức mạnh samurai truyền thống đã trở thành một quân đội hiện đại hơn với cấu trúc và kỹ thuật huấn luyện mới. Điều này bao gồm việc chuyển đổi từ việc sử dụng vũ khí truyền thống như kiếm và cung cấp tên vũ khí tiên tiến hơn súng và pháo. Ngoài ra, quân đội còn tiến hành công việc tập trung quyền lực và kiểm soát dưới chế độ của Hoàng đế, thay vì lãnh chúa phong kiến như trước đây. Việc này giúp tăng cường sức mạnh đôi thứ sáu và đồng nhất của quân đội, từ đó tạo ra sức mạnh chung để cung cấp quá trình hiện đại hóa của đất nước. Việc làm quân đội Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị không chỉ giúp nâng cao sức mạnh quân sự của đất nước mà còn mở ra cơ hội cho sự mở cửa với thế giới bên ngoài. Nhật Bản đã bắt đầu tiếp nhận và học hỏi từ các nước phương Tây, từ đó phát triển mạnh mẽ công nghệ hiện đại. Ngoài ra, quân đội cũng đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng lãnh thổ và tham gia vào các cuộc chiến xa xứ, giúp Nhật Bản trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới. Quân đội Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới và hiện đại hóa của đất nước. Sự thay đổi này không chỉ giúp nâng cao sức mạnh quân sự của Nhật Bản mà còn mở ra cơ hội cho quốc gia này để tham gia vào cộng đồng quốc tế và thế giới chính trị.
Cuối cùng theo tôi Quá trình Âu hóa trong quân đội thời Minh Trị của Đế quốc Nhật Bản đã dẫn đến những thay đổi đáng kể về cơ cấu, công nghệ và chiến thuật quân sự, góp phần hiện đại hóa và mở rộng sức mạnh quân sự của Nhật Bản.Quá trình châu Âu hóa quân đội Nhật Bản trong thời Minh Trị là một quá trình biến đổi có ý nghĩa sâu rộng đối với sự phát triển và quỹ đạo tương lai của đất nước. Tác động của quá trình Âu hóa đối với sự phát triển quân sự của Nhật Bản là rất sâu sắc, định hình sự nổi lên của đất nước này như một cường quốc khu vực và toàn cầu, đồng thời ảnh hưởng đến động lực xã hội, văn hóa và chính trị của nước này. Quá trình này tuy mang lại những tiến bộ và thành công đáng kể nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức và hạn chế, đặt ra câu hỏi về sự phức tạp của quá trình hiện đại hóa và bảo tồn các giá trị truyền thống. Những diễn biến trong tương lai liên quan đến quá trình Âu hóa quân đội Nhật Bản có thể sẽ được định hình bằng bối cảnh chiến lược đang phát triển, các chính sách quốc phòng đang diễn ra và động lực văn hóa, làm nổi bật tác động lâu dài của giai đoạn quan trọng này trong lịch sử Nhật Bản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tham khảo trong nước
1. Đào Trinh Nhất , 1936 Nước Nhật Bản 30 năm duy tân , Nhà xuất bản Đắc Lập, Huế
2. Lê Văn Quang 1998, Lịch sử Nhật Bản , Trường ĐHKHXH&NV , TP. Hồ Chí Minh
3. Nguyễn Tiến Lực (2010). MINH TRỊ DUY TÂN VÀ VIỆT NAM, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
4. Nguyễn Quốc Hùng ( chủ biên), 2007, Lịch sử Nhật Bản, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội
5. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, 2003, Lịch sử thế giới cận đại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, trang 309.
II. Tài liệu tham khảo nước ngoài
1. Beasley, W. G. (1995). Meiji Restoration. Stanford University Press.
2. Connaughton, RM, The War of the Rising Sun and the Tumbling Bear—A Military History of the Russo-Japanese War of 1904-5 , London, 1988
3. Crowley, James B. “Japan's Military Foreign Policy.” in James William Morley, ed
4. Jansen, M.B. (2000). The Making of Modern Japan Cambridge, MA: Harvard University Press.
5. Jansen, M.B. (2000). The Making of Modern Japan Harvard University Press.
6. Olender (2014). Sino-Japanese naval war 1894-1895
7. Ravina, Mark (2004). The Last Samurai: The Life and Battles of Saigo Takamori
8. “The Commonwealth of Greater East Asia: When Total Empire Meets Total War” by Alfred W. McCoy in the Asia-Pacific Journal.
III. Tài liệu trên Internet
1. Admin Andrewsedu (20/09/2021), 4 cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới, Andrews edu, https://andrews.edu.vn/4-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-trong-lich-su-the-gioi/
2. Erin Blakemore (17/07/2023), How Japan Took Control of Korea, History, https://www.history.com/news/japan-colonization-korea
3. Facts and Details (09/2016), MEIJI PERIOD (1868-1912) REFORMS, MODERNIZATION AND CULTURE, Facts and Details, https://factsanddetails.com/japan/cat16/sub108/entry-5615.html
4. History Japan, Pathway to second sino Japan war, Historyjapan , http://historyjapan.org/pathway-to-second-sino-japan-war-1
5. Nichirosenso, Chiến tranh Nga-Nhật, Japan Knowledge, https://japanknowledge.com/introduction/keyword.html?i=2017
6. The Editors of Encyclopaedia Britannica, Rebellion against the imperial government of Saigō Takamori, Encyclopaedia Britannica, https://www.britannica.com/biography/Saigo-Takamori/Rebellion-against-the-imperial-government#ref6345
7. Vũ Việt Hoàng (20/07/2018), Những cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử nhân loại, https://concetti.vn/news/legal_news/150/nhung-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-trong-lich-su-nhan-loai

Nhận xét
Đăng nhận xét